The Manor Central Park đô thị đẳng cấp VIP biệt thự, nhà liền kề, nhà phố thương mại, căn hộ chung cư cao cấp - Công viên CHU VĂN AN

17/06/2018

Danh nhân CHU VĂN AN - Phan Thượng Hải

Danh nhân Chu Văn An
Danh nhân Chu Văn An - Quốc Tử Giám
Trần Anh Tông (1276-1320) làm vua 21 năm (1293-1314) và làm Thái Thượng Hoàng 6 năm (1314-1320). Trần Minh Tông (1300-1357) làm vua 15 năm (1314-1329) và làm Thái Thượng Hoàng 27 năm (1330-1357) tên là “Mạnh”, là con trai độc nhất của Anh Tông sống đến tuổi trưởng thành nhờ Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật nuôi ở trong phủ của mình từ lúc nhỏ (Ba người con trai kia của Anh Tông nuôi ở cung vua đều chết rất sớm). Minh Tông là cháu ngoại của ông Trần Bình Trọng, sinh ngày 21-8-1300 một ngày sau khi ông Trần Hưng Đạo qua đời. Do đó Vua Trần Minh Tông là dòng dõi của nhà Trần, nhà Lý và nhà (Tiền) Lê. Nước Đại Việt cường thịnh và yên bình dưới thời 2 vị vua nầy.
Nhà Trần ngoại giao rất tốt với nhà Nguyên bên Tàu và luôn đánh thắng Chiêm Thành và Ai Lao.

BẮC SỨ TÚC KHÂU ÔN DỊCH (*)
(Đi sứ phương Bắc ở trạm dịch ở Khâu Ôn) 
Vãn tận thiên hà tẩy giáp binh                                           Kéo cả Ngân Hà rửa giáp binh 
Miếu đường vô ý sự biên chinh                                         Triều đình đâu muốn việc giao tranh 
Giang sơn hữu hạn phân nam bắc                                    Núi sông mốc đã chia nam bắc 
Hồ Việt đồng phong các đệ huynh                                     Hồ Việt thói cùng kết đệ huynh 
Nguyệt mãn man thôn nhàn dạ tích                                   Trăng sáng thôn làng đêm kiếm củi 
Vũ dư dạ thiếu lạc xuân canh                                            Mưa chan nội cháy vụ xuân canh 
Quân ân vị hiệu quyên trần báo                                         Ơn vua một chút còn chưa báo 
Nhất cá ninh từ vạn lý hành.                                              Đâu dám chối từ cuộc viễn chinh. 
(Nguyễn Trung Ngạn)                                                        (Điệp Luyến Hoa dịch)

(*) Khâu Ôn hay Ôn Khâu là tỉnh lỵ Lạng Sơn ngày nay, ở gần biên giới Việt Hoa.

Triều đình gồm những người tài giỏi như môn khách của ông Trần Hưng Đạo là các ông Phạm Ngũ Lão (1255-1320), Trần Thì Kiến (1260-1330) và Trương Hán Siêu (?-1354); bạn của Anh Tông là ông Đoàn Nhữ Hài (1280-1335); các nhà khoa bảng như Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi (1280-1346) và Hoàng Giáp Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), cùng đậu năm 1304; ông Chu Văn An (1292-1370) và hai học trò là ông Lê Bá Quát (?-?) và ông Phạm Sư Mạnh (?-?); và hai anh em Phạm (Tông) Mại (?-?) và Phạm (Tông) Ngộ (?-?).

Vua Trần Minh Tông có 3 bà vợ chính và có 4 con trai được làm vua. 
              Hiến Từ hoàng hậu Trần thị (?-1370) là con của chú vua Minh Tông (Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn) có con là Hạo (sau nầy là Trần Dụ Tông).
              Minh Từ quý phi Lê thị (?-1365) có Thái tử Vượng (sau nầy là Trần Hiến Tông) và Cung Định Vương Phủ (sau nầy là Trần Nghệ Tông). 
              Đôn Từ quý phi (?-1347) là em của Minh Từ có con là Cung Tuyên Vương Kính (sau nầy là Trần Duệ Tông). 
Ông Lê Quý Ly, cháu kêu Minh Từ và Đôn Từ bằng cô ruột, nhờ đó được làm quan. Năm 1329, Trần Minh Tông làm Thái Thượng Hoàng (9 năm sau khi Thượng Hoàng Anh Tông qua đời), Thái tử Trần Vượng làm vua là Trần Hiến Tông (1319-1341). Hiến Tông qua đời lúc 23 tuổi, Thượng Hoàng Minh Tông lập người con thứ 10 là Trần Hạo (con Hiến Từ hoàng hậu) đang 6 tuổi làm vua là Trần Dụ Tông (1336-1369). Thượng Hoàng Minh Tông là người sáng suốt, luôn nắm chính quyền cho đến khi qua đời (1357). Đây là bài thơ lúc về già hối tiếc việc giết oan chú và cha vợ của mình là Huệ Vũ Vương Trần Quốc Chẩn và bài thơ nói với quan Thái Y (Trâu Công) về bệnh của mình:

DẠ VŨ                                                                             MƯA ĐÊM 
Thu khí hòa đăng thất thự minh                                  Giọt mưa tàu chuối tiễn đêm dài 
Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh                                Hiu hắt tàn thu trước ban (buổi) mai 
Tự tri tam thập niên tiền thác                                       Ba chục năm rồi lầm lỗi bấy ! 
Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh.                                Đành ôm sầu hận lắng mưa rơi. 
(Trần Minh Tông) (Nam Trân dịch) 
CHẨN MẠCH                                                                  CHẨN MẠCH 
Chẩn mạch hưu luân phiền muộn đa                           Xem mạch đừng nên nói muộn phiền 
Trâu Công lương tễ yếu điều hòa                                Trâu Công hãy liệu thuốc cho yên 
Nhược ngôn phiền muộn vô hưu yết                            Bảo rằng phiền muộn không sao dứt 
Chỉ khủng trùng chiêu phiền muộn đa.                         Chỉ sợ càng tăng phiền muộn thêm. 
(Trần Minh Tông)                                                           (Cao Huy Giu dịch)

Trần Dụ Tông vẫn tiếp tục làm vua (chứ không truyền ngôi lên làm Thái Thượng Hoàng). Vua Dụ Tông tuy giỏi về văn học nhưng thích tửu sắc và không lo chính trị.

Thời 65 năm Anh Minh chi trị nầy (1293-1357) có 2 đặc điểm. 
Thứ nhất là Nho Giáo bắt đầu thịnh hành với:

           Trung (Loyalty), Hiếu (Filial piety), Tiết (Continency), Nghĩa (Righteousness). Nhân (Humaneness) Nghĩa (Righteousness or Justice) Lễ (Proper Rite) Trí (Knowledge) Tín (Integrity).

Thứ hai là chữ Nôm bắt đầu thịnh hành được dùng song song với chữ Hán. Nho Giáo và chữ Hán Nôm là căn bản của nền văn hóa nước Việt cho đến cuối thế kỷ 19 trong thời Pháp thuộc.

Chữ Nôm được triều đình biết đến qua câu chuyện ông Nguyễn Thuyên làm “(bài) văn bằng chữ Nôm đuổi cá sấu” được chép trong ĐVSKTT như sau: “Mùa thu nhâm ngọ (1282), có cá sấu ở sông Hồng, vua (Nhân Tông) sai (Nguyễn) Thuyên làm (bài) văn ném xuống sông, cá sấu tự nhiên đi mất. Vua xem việc nầy như việc ông Hàn Dũ làm năm 830 ở Triều Châu (bên Tàu) vào đời Đường nên ban cho họ là Hàn (nên gọi là Hàn Thuyên)”. 
Đến nay chúng ta mới biết bài văn như thế này:

VĂN ĐUỔI CÁ SẤU
“Này hỡi ngạc ngư mày có hay. Biển Đông rộng rãi chẳng nơi nầy. Phú Lương (*) thánh vực ngươi không biết. Lạc lối lầm đường mới đến đây. Ngươi có biế vào đây sẽ đường cùng. Dân cày đánh đuổi khó ung dung. Ý trời đã định đừng ương ngạnh. Hãy đến biển Đông chốn vẫy vùng.” 
(Nguyễn Thuyên) 1282 
(*) Phú Lương là tên cũ của khúc sông Hồng ở Thăng Long 
(**) Vua Hùng Vương dạy dân Lạc Việt vẽ hình thủy tộc lên thân mình, khi xuống biển loài thủy quái ngỡ là chung loài nên không tấn công. 
(***) Tổ tiên nhà Trần là người đánh cá.

Nếu đọc kỹ thì bài văn xuôi nầy là 4 bài Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú:

Này hỡi ngạc ngư mày có hay 
Biển Đông rộng rãi chẳng nơi nầy 
Phú Lương thánh vực ngươi không biết 
Lạc lối lầm đường mới đến đây

Ngươi có biết rằng Đại Việt xưa
Dân quen chày lưới chẳng tay vừa 
Ngư dân đã được vua Hùng dạy 
Xuống nước giao long cũng phải chừa

Nối dõi ngôi trời triều đại nầy 
Dấy từ Hải ấp lẫy lừng thay 
Võ công hiển hách bốn phương tịnh 
Biển lặng sông trong mới có rày

Thú dữ vào đây sẽ đường cùng 
Dân cày đánh đuổi khó ung dung 
Ý trời đã định đừng ương ngạnh 
Hãy đến biển Đông chốn vẫy vùng.

Đây là 4 bài ĐLTNTT đầu tiên bằng chữ Hán Nôm ? Nhiều người sau nầy nghi ngờ vì lời thơ có vẻ tân kỳ không hợp thời đó ?

Tục truyền rằng ông Hàn Thuyên (1229-?) có cải cách thơ Đường bằng những luật mới như dùng câu 6 chữ hay ngắt nhịp 3,4 (thay vì 4,3) hoặc dùng thủ vỹ ngâm. Hậu thế gọi là Hàn Luật. Các ông Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An và Lê Quý Ly có làm thơ Hán Nôm như ông Hàn Thuyên nhưng đều thất lạc vì Bắc thuộc thời nhà Minh. Thơ Hán Nôm mới thấy lại vào đời nhà Hậu Lê bắt đầu từ ông Nguyễn Trãi. 
Đây là một những bài thơ Hán Nôm của ông Nguyễn Trãi dùng Hàn Luật (mà sau nầy cũng thấy trong thơ Hồng Đức và thơ của ông Nguyễn Bỉnh Khiêm).

HOA SEN 
Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh 
Quân tử không kham được thửa danh 
Gió đưa hương, đêm nguyệt lạnh 
Riêng làm của, có ai tranh. 
(Nguyễn Trãi)

THỦ VỸ NGÂM 
Góc thành Nam, lều một gian 
No nước uống, thiếu cơm ăn 
Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá 
Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn (*) 
Con đòi trốn dường ai quyến 
Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn (**) 
Chẳng phải triều quan chẳng phải ẩn 
Góc thành Nam, lều một gian. 
(Nguyễn Trãi) 
(*) Thú thứa=xú xứa=xuề xòa=xuềnh xoàng. Vằn=chó vằn, con chó 
(**) Bà ngựa=con ngựa, như gọi là ông voi thay vì con voi.

Ngôn ngữ và Văn tự của nước Việt chúng ta có một lịch sử khá dài. 
Ngôn ngữ và Văn tự của nước Việt chúng ta có một lịch sử khá dài. Ngôn ngữ là lời nói (Ngôn là lời nói, Ngữ là lời nói). Tự là chữ, Văn tự là chữ viết. Âm là tiếng. Ngữ âm là tiếng nói. Một Ngôn Ngữ có thể có những Ngữ Âm (cách phát âm) khác nhau. Loài người dùng lời nói và chữ viết để diễn đạt cái “nghĩa” cho người khác hiểu mình. 
Ngôn ngữ Tàu (tạm gọi là Hoa Ngữ) có những Ngữ Âm khác nhau. Nó thay đổi theo thời gian và khác nhau theo không gian. Nước Tàu từ thời triều đại Hán thì có Hán Âm và Hán Tự. Tiếng Tàu chính thức thay đổi theo thời gian từ Hán Âm (tiếng Hán, dùng vào thời nhà Hán) cho đến Đường Âm (tiếng Đường, dùng vào thời nhà Đường) rồi tiếng Quan Thoại (quan Thoại Âm) dùng từ thời nhà Minh nhà Thanh cho đến bây giờ. Ngoài ra cũng có những tiếng địa phương không biết xuất phát từ thời điểm nào như tiếng Quảng (ngữ âm dùng ở vùng Lưỡng Quảng), tiếng Tiều (ngữ âm dùng ở vùng Tiều Châu)… 
Văn tự Tàu (chữ Tàu) từ Hán Tự (của đời Hán, viết từ thời nhà Hán) gần như vẫn không thay đổi cho đến bây giờ tuy rằng có “Giản Thể” từ giữa thế kỷ 20.

Người (Âu) Lạc Việt bắt đầu tiếp xúc với người Tàu vào thời nhà Hán gồm có ngôn ngữ là Hán Âm (tiếng Hán) và văn tự là Hán Tự (chữ Hán). Người Tàu đem Hán Âm và Hán Tự sang nước ta từ đó.

Hán Tự dùng ở nước Việt cũng như ở nước Tàu, không thay đổi cho đến đầu thế kỷ 20. Ngôn ngữ Tàu (tạm gọi là Hoa Ngữ) mà người Việt chúng ta dùng cho đến bây giờ không biết là giống Hán Âm hay Đường Âm (vì Bắc Thuộc thời đại chính là trong thời Hán và Đường) hay là một tiếng địa phương (như tiếng Quảng, tiếng Tiều...). Từ thế kỷ 14, nước Tàu chính thức dùng tiếng Quan Thoại (Quan Thoại Âm) nên không còn ai biết Hán Âm và Đường Âm phát âm ra sao vì không có máy thu thanh để lưu giữ lại. Điều chắc chắn là tiếng Tàu của người Việt chúng ta nói cho đến ngày nay khác tiếng Tàu chính thức từ thế kỷ 14 (Quan Thoại Âm) hay những tiếng địa phương bây giờ (như tiếng Quảng…).

Ông bà chúng ta vẫn gọi “tiếng Tàu mà người Việt nói” là Hán Âm (tiếng Hán). Người miền Nam hay gọi chữ Hán (Hán Tự) là chữ Nho. 
Người (Âu) Lạc Việt cũng có Ngôn Ngữ riêng của mình, ta có thể gọi là “Việt Ngữ”. Có thể nói Việt Ngữ chỉ có một ngữ âm (Việt Âm=tiếng Việt của người Việt) tuy Việt Âm có thể thay đổi chút ít hay phong phú hơn theo thời gian và không gian (Bắc, Nam, Trung) nhưng người Việt ở đâu cũng hiểu Việt Âm. 
Tuy nhiên từ thời Hồng Bàng, người (Âu Lạc) Việt ta hình như không có Văn Tự (chữ viết). Có lẽ từ thời Bắc Thuộc, người Việt mới bắt đầu tạo ra Văn Tự để viết Việt Ngữ và Việt Âm. Văn Tự nầy gọi là Chữ Nôm. Các học giả cho rằng “Nôm” là trại từ “Nam”. Theo học giả Nguyễn Văn Tố thì 2 chữ Bố Cái viết cho Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng (chết năm 791) trong thời Bắc Thuộc là 2 chữ Nôm xưa nhứt được tìm thấy. Bố là Cha, Cái là Mẹ; nếu là Hán Âm và Hán Tự thì là “Phụ Mẫu”. 
Chữ Nôm cũng như chữ Hán (Hán Tự) là ký tự và biểu ý (tượng nghĩa) chứ không phải là tượng thanh. Mỗi một chữ có một ý nghĩa và không liên quan đến tiếng nói (không tượng thanh). 
Chữ Nôm được triều đình công nhận từ đời nhà Trần (vua Trần Nhân Tông) với câu chuyện “Văn đuổi cá sấu” của ông Nguyễn Thuyên. Tuy nhiên Chữ Nôm chỉ được chính thức dùng trong thi cử và chính quyền vào đời nhà Hồ (1400-1407) và thời vua Quang Trung và Cảnh Thịnh (1788-1802).

Thế là ngôn ngữ và văn tự của nước Việt ta phong phú hơn Tàu nhiều vì ngoài Hán Âm và Hán Tự chúng ta còn có thêm Việt Âm và Chữ Nôm. Học giả ngày nay gọi chung là Hán Việt Âm (gồm có tiếng Hán và tiếng Việt của người Việt) và chữ Hán Nôm (gồm có Hán Tự với Chữ Nôm). Từ thời Hồng Đức dùng “Quốc Âm” cho “Hán Việt Âm” và đôi khi sau nầy còn gọi chung chữ “Nôm” cho chữ “Hán Nôm”. 
Đến thời Pháp Thuộc, người Pháp thay thế chữ Hán Nôm bằng chữ Quốc Ngữ để viết Hán Việt Âm. Chữ Quốc Ngữ là tượng thanh, “Âm sao thì viết vậy”. Chữ Quốc Ngữ dùng cách ghép 24 mẫu tự La Tinh và 5 dấu với nhau. Vì không là tượng nghĩa nên một chữ có thể có nhiều nghĩa, tuy nhiên đơn giản và rất dễ học.

Nhà Trần thịnh trị nhất vào đời Trần Anh Tông và Minh Tông và bắt đầu suy yếu ngay sau đời Trần Minh Tông. Ông Chu An (1292-1370), một nhà tiền phong của thơ Hán Nôm, có một cuộc đời giống như của đức Khổng Tử của Nho Giáo là điển hình của thời kỳ nầy. 
Tước phong của ông Chu An là Văn Trinh Công nên còn được gọi là Chu Văn An (đáng lẽ phải gọi là Chu Văn Trinh ?). Ông đậu Thái Học Sinh nhưng không ra làm quan chỉ mở trường dạy học. Học trò như các ông Lê (Bá) Quát, Phạm Sư Mạnh… đều làm quan lớn. Cuối cùng Vua Trần Minh Tông mời được ông ra dạy ở Quốc Tử Giám và làm quan. Đến đời Trần Dụ Tông ông dâng “Thất Trảm Sớ” khuyên vua nên giết 7 gian thần nhưng không được chấp thuận. Do đó ông từ quan về ở ẩn ở núi Phượng Hoàng (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Sau khi qua đời ông Chu Văn An được thờ trong Văn Miếu ở Thăng Long. 
Các thi sĩ nổi danh của nhà Trần (Trần Nguyên Đán), nhà Lê (Nguyễn Du) và nhà Nguyễn (Cao Bá Quát) đều có thơ về ông:

HẠ TIỀU ẨN CHU AN BÁI QUỐC TỬ GIÁM TU NGHIỆP 
(Mừng Chu An Tiều Ẩn được trao chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám)

Học hải hồi lan tục tái thuần                                  Thói thuần biển học sóng tài xoay 
Thượng trường Sơn Đẩu đắc tư nhân                  Sơn, Đẩu trường cao được đón thầy (*) 
Cùng kinh bác sử công phu đại                             Rộng sử thông Kinh công dụng lớn 
Kính Lão sùng Nho chính hóa tân                         Sùng Nho kính Lão kỷ cương hay 
Bố miệt mang hài quy vĩnh nhật                            Ngày về núi cũ hài rơm bước 
Thanh đầu bạch phát dục Nghi xuân                    Xuân tắm giòng Nghi tóc trắng bay 
Huân Hoa chỉ thị hoàng trường thị                        Nghiêu Thuấn rủ xiêm thời thịnh trị (*) 
Tranh đắc Sào Do tác nội thần.                              Sào Do đâu có chịu ra tay (*) 
(Trần Nguyên Đán)                                                  (Duy Phi dịch) 
(*) Sơn, Đẩu=sao Thái Sơn và sao Bắc Đẩu là hai vì sao chánh. 
Vua Nghiêu tên là Phóng Huân, vua Thuấn tên là Trọng Hoa (2 vị Vua Thánh của Nho Giáo) 
Sào, Do=Hứa Do và Sào Phủ (2 ẩn sĩ). Hứa Do nghe vua Nghiêu muốn truyền ngôi cho mình thì ra suối rửa tai (cho sạch). Sào Phủ thấy vậy không cho con trâu của mình uống nước suối (sợ uống nước dơ) !

PHƯỢNG HOÀNG SAN 
Phượng Hoàng sơn thượng tịch thôn khư             Trên núi Phượng Hoàng thôn vắng thưa 
Tiều Ẩn tiên sinh cổ bích dư                                   Tiên sinh Tiều Ẩn chốn tiêu sơ (*) 
Phiến thạch quang mang minh nguyệt phủ            Đá nhô lưỡi búa trăng ngời chiếu 
Bản tường phiêu diểu bạch vân lư                         Tường lửng lư hương mây trắng lùa 
Phương tông tự tích bi vô tác                                 Bia mất, tích thơm đâu dấu cũ 
Thắng cảnh vu kim tận bất như                              Núi còn, cảnh thấy khác ngày xưa 
Lẫm liệt anh phong thiên cổ tại                               Anh linh lẫm liệt còn muôn thuở 
Trùng san dung bộ phỏng u cư.                             Lần bước núi non hỏi ẩn cư. 
(Nguyễn Du)                                                            (Duy Phi dịch) 
(*) Tiều Ẩn là tên hiệu của ông Chu Văn An

VỊNH CHU AN 
Kính tiết thanh tu khí phách đương                     Tiết cứng lòng trong khí phách hùng 
Dục tương chích thủ vãn đồi dương                    Một tay muốn kéo lại vừng hồng 
Lôi đình bất tỏa cô trung phẫn                             Cô trung sấm sét không sờn chí 
Quỷ mỵ do kinh thất trảm chương                       Thất trảm yêu ma phải rộn lòng 
Hạo khí dĩ bằng thiên địa bạch                            Trời đất soi chung vầng hạo khí 
Cao phong do đối dĩ sơn trường                          Nước non còn mãi nếp cao phong 
Lâm toàn cực ẩn kim hà tại                                  Suối rừng nơi ẩn nay đâu tá 
Văn Miếu duy dư tính tự lương.                           Văn Miếu còn tên hương khói nồng.(*) 
(Cao Bá Quát)                                                       (Vũ Mộng Hùng dịch) 
(*) Văn Miếu thờ Khổng Tử và môn đệ, lập năm 1070 (Lý Thánh Tông). Quốc Tử Giám, lập năm 1076 (Lý Nhân Tông), để dạy con hoàng tộc và những người dân học giỏi (Coi như là trường Đại Học đầu tiên của nước ta).

PHAN THƯỢNG HẢI 

Trích nguồn: http://sovhtt.hanoi.gov.vn/

Phối cảnh dự án Công viên Chu Văn An 

Công viên CHU VĂN AN
Công viên CHU VĂN AN 100 Ha

back The Manor next The Manor The Manor

Copyright © THE MANOR CENTRAL PARK | Chính sách bảo mật | Điều khoản và Điều kiện | Sitemap | Thiết kế Đô thị Hà Nội